Hotline: 0989 422 798

  • Legal for sustainable development
    Điểm tựa pháp lý cho sự phát triển vững bền

  • Tư vấn thường xuyên

    Các đặc tính cơ bản của Công ty Hợp danh

    Ho Hieu

    Tháng Tư 13

    Khi một tổ chức hoặc cá nhân quyết định thành lập doanh nghiệp thì tổ chức hoặc cá nhân đó cần lựa chọn một loại hình doanh nghiệp phù hợp với yêu cầu của mình và quy định của pháp luật. Tuy nhiên, không phải ai cũng có thể hiểu rõ về các loại hình doanh nghiệp. Hiểu được khó khăn đó, trong phạm vi bài viết này, công ty luật chúng tôi sẽ đưa ra các đặc tính cơ bản của loại hình doanh nghiệp – Công ty hợp danh cũng như chỉ ra các ưu nhược điểm của loại hình Công ty này, nhằm giúp khách hàng có thể dễ dàng lựa chọn được loại hình doanh nghiệp phù hợp với nhu cầu của mình.

    I. Đặc tính cơ bản của công ty hợp danh

    Công ty hợp danh là doanh nghiệp trong đó phải có ít nhất 02 thành viên là chủ sở hữu chung của Công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung. Ngoài các thành viên hợp danh, công ty có thể có thêm thành viên góp vốn

    1. Thành viên công ty

    Về thành viên hợp danh:

    CTHN phải có ít nhất 02 thành viên hợp danh là chủ sở hữu chung của Công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung. Thành viên hợp danh phải là cá nhân, chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của Công ty và trách nhiệm của các thành viên hợp danh là trách nhiệm liên đới. thành viên hợp danh không được làm chủ DNTN hoặc là thành viên hợp danh của CTHD khác, trừ trường hợp được sự nhất trí của các thành viên hợp danh còn lại (khoản 1 Điều 175 Luật doanh nghiệp 2014).

    Về thành viên góp vốn:

    Ngoài thành viên hợp danh, CTHD có thể có các thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn góp đã được góp vào công ty (khoản 1 Điều 172). Thành viên góp vốn có thể là cá nhân hoặc tổ chức.

    Không có giới hạn về số lượng tối đa thành viên hợp danh và thành viên góp vốn theo quy định của luật doanh nghiệp 2014.

    1. Tư cách pháp nhân và trách nhiệm chủ sở hữu

    CTHD có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. So với DNTN, thành viên hợp danh của CTHD cũng là cá nhân và có trách nhiệm vô hạn với các nghĩa vụ nợ của doanh nghiệp, tuy nhiên số lượng thành viên hợp danh không chỉ giới hạn ở một cá nhân duy nhất như DNTN.

    Theo quy định của Luật Việt Nam về pháp nhân thì chủ sở hữu có trách nhiệm hữu hạn và có sự tách biệt giữa tài sản của doanh nghiệp và chủ sở hữu. Tuy nhiên, CTHD là trường hợp ngoại lệ, CTHD có tư cách pháp nhân nhưng không có sự tách biệt giữa tài sản của CTHD và các thành viên hợp danh khi sử dụng để thanh toán nghĩa vụ nợ. Ngoại trừ các thành viên góp vốn, thì tài sản của CTHD tách biệt với tài sản của các thành viên góp vốn khi sử dụng để thanh toán các nghĩa vụ nợ của Công ty.

    1. Cơ cấu tổ chức và quản lý.

    CTHD có điều lệ để quy định về cơ cấu quản lý của CTHD. Cơ quan quản lý chính của CTHD là hội đồng thành viên, bao gồm: tất cả các thành viên hợp danh và thành viên góp vốn.. Hội đồng thành viên bầu một thành viên hợp danh làm Chủ tịch Hội đồng thành viên, đồng thời kiêm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc nếu Điều lệ công ty không có quy định khác. Hội đồng thành viên có quyền quyết định tất cả công việc kinh doanh của công ty. quyền biểu quyết trong hội đồng thành viên tập trung vào thành viên hợp danh.

    Về cơ bản, thành viên góp vốn không có quyền quản lý Công ty mặc dù họ được tham gia vào hội đồng thành viên, chỉ có quyền biểu quyết hạn chế tại hội đồng thành viên đối với một số vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của họ, sửa đổi hoặc bổ sung điều lệ, tổ chức lại, giải thể Công ty (theo khoản 1 điều 182 Luật doanh nghiệp 2014).

    Trong hoạt động điều hành hoạt động kinh doanh tại Công ty hợp danh, mỗi thành viên hợp danh đều có quyền của người đại diện theo pháp luật, tổ chức điều hành hoạt động hằng ngày của công ty và phân công nhau đảm nhiệm các chức danh quản lý và kiểm soát Công ty. Một thành viên hợp danh có thể tiến hành các hoạt động nhân danh công ty nếu thành viên đó cho là có lợi nhất cho Công ty mà không cần thông báo cho các thành viên khác. Thành viên hợp danh cũng có quyền sử dụng con dấu và tài sản của Công ty.

    Hoạt động của CTHD có thể làm phát sinh trách nhiệm nợ của CTHD và mọi thành viên hợp danh đều phải chịu trách nhiệm liên đới mặc dù có thể một số thành viên hợp danh không biết gì về các hoạt động trên.

    1. Khả năng chuyển nhượng và bán doanh nghiệp.

    Khi một thành viên hợp danh muốn chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho bất kỳ tổ chức hoặc cá nhân nào khác (kể cả thành viên hợp danh khác) thì việc chuyển nhượng này cần sự chấp thuận trước của các thành viên hợp danh còn lại (khoản 3 Điều 175 Luật doanh nghiệp 2014). Một thành viên hợp danh không buộc phải chào bán phần vốn góp của mình cho các thành viên hợp danh còn lại trước khi chào bán cho bên thứ ba mà chỉ cần xin chấp thuận trước của các thành viên đó.

    Sau khi chấm dứt tư cách thành viên, nếu tên của thành viên bị chấm dứt được sử dụng làm thành một phần hoặc toàn bộ tên của CTHD thì thành viên hợp danh ( người thừa kế, người đại diện) có quyền yêu cầu công ty Chấm dứt việc sử dụng tên đó (khoản 6, Điều 180 Luật Doanh nghiệp 2014). Trong thời hạn 2 năm kể từ ngày chấm dứt tư cách thành viên hợp danh, thì thành viên hợp danh vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với nghĩa vụ nợ của công ty phát sinh trước ngày chấm dứt tư cách thành viên  và hạn chế này được áp dụng trong trường hợp chấm dứt tư cách do bị khai trừ hoặc tự nguyện rút vốn ( khoản 5 Điều 180 Luật Doanh nghiệp).

    1. Khả năng huy động vốn.

    CTHD không được phép phát hành chứng khoán (như cổ phiếu, trái phiếu và các loại chứng khoán khác) (khoản 3 Điều 172 Luật doanh nghiệp 2014). Được phép huy động vốn dưới các hình thức khác như vay vốn ngân hàng.

    1. Nghĩa vụ công bố thông tin.

    CTHD chỉ có nghĩa vụ nộp một số báo cáo về tài chính và tình hình sử dụng lao động cho cơ quan cấp phép, quản lý lao động, thuế. Sổ kế toán, báo cáo tài chính phải được tổ chức sắp xếp, lưu trữ đầy đủ và trung thực theo quy định của pháp luật. không có nghĩa vụ lập và duy trì sổ đăng ký thành viên như trong trường hợp CTTNHH hoặc CTCP.

    II. Ưu điểm, nhược điểm của Công ty Hợp danh

    1. Ưu điểm
    • Công ty hợp danh là loại hình công ty đối nhân. Với loại hình công ty này, có thể kết hợp được uy tín cá nhân của nhiều người (Các thành viên công ty) để tạo dựng hình ảnh cho công ty.
    • Do chế độ liên đới chịu trách nhiệm vô hạn của các thành viên hợp danh mà công ty hợp danh dễ dàng tạo được sự tin cậy của các đối tác kinh doanh.
    • Việc điều hành quản lý công ty không quá phức tạp do số lượng các thành viên ít và là những người có uy tín, tuyệt đối tin tưởng nhau.
    • Ít chịu sự điều chỉnh của pháp luật.
    • Cơ cấu tổ chức gọn nhẹ, phù hợp với các doanh nghiệp có quy mô nhỏ
    1. Nhược điểm
    • Các thành viên hợp danh phải liên đới chịu trách nhiệm vô hạn đối với hoạt động kinh doanh của công ty nên mức độ rủi ro về vốn trong quá trình của các thành viên hợp danh là rất cao.
    • Không được phát hành cổ phiếu để huy động nguồn vốn.

    Với những phân tích trên đây , mong rằng quý khách hàng sẽ lựa chọn được loại hình doanh nghiệp phù hợp. Hãy liên hệ với chúng tôi nếu có bất kỳ thắc mắc nào.

    CÔNG TY LUẬT AN MINH PHÁT

    Địa chỉ: Phòng 12A – Chung cư viện Chiến lược Bộ Công An, đường Nguyễn Chánh, quận Cầu Giấy, Hà Nội.

    Điện thoại: 024.39.184.888/0973.509.636/0989.422.798

    Bình luận

    © 2017 AMPLAW - Bản quyền thuộc về Luật An Minh Phát | Nghiêm cấm tái bản khi chưa được sự đồng ý bằng văn bản!