Hotline: 0989 422 798

  • Legal for sustainable development
    Điểm tựa pháp lý cho sự phát triển vững bền

  • Tư vấn luật dân sự

    Vụ khởi kiện quyết định hành chính: Luật sư phân tích về mặt pháp lý

    Đinh Thành Long

    Tháng Mười 13

              Đất nước đang trên con đường hướng tới mục tiêu Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do đó mà pháp luật và đời sống xã hội có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Pháp luật là công cụ quản lý trật tự Nhà nước, là hành lang pháp lý, khuân mẫu cho mọi người trong xã hội làm theo. Nhưng hiện nay luật nước vẫn còn gặp nhiều khó khăn khi tiếp cận, đi sâu vào đời sống của người dân, từ đó dẫn đến sự mẫu thuận giữa Cơ quan Nhà nước và người dân. Qua vụ việc sau đây, tôi Luật sư Dương Lê Ước An xin được đưa quan điểm của mình về vụ việc “Khởi kiện quyết định hành chính về áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả và Quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả”  và từ đó xin góp chút công sức xây dựng pháp luật, để luật pháp đi vào thực tiễn đời sống người dân hơn. 

    TÓM TẮT SỰ VIỆC 

              Năm 1997 ông Nguyễn Việt Hồng có ký kết với UBND xã Tự Nhiên Hợp đồng giao khoán khu đất lò gạch xã Tự Nhiên, trong đó nêu giao khoán gọn việc quản lý sử dụng khu đất lò gạch cho ông Hồng. Diện tích bàn giao cho tôi là 12.214m², có biên bản xác nhận của UBND xã Tự Nhiên. Trong tổng số diện tích được UBND xã Tự Nhiên bàn giao là 12.214m² thì trước đó, năm 1989 ông Hồng có mua nhà nằm trên diện tích đất lò gạch của ông Nguyễn Trọng Mạch có sự chứng kiến của Ban quản trị hợp tác xã với diện tích khoảng 2000 m2  và có mua nhà và miếu nằm trên 200 m2 của ông Đặng Hữu Long. Đến năm 2003 có mua thêm của vợ, chồng ông Thiềm, bà Thao là 1800 m2 để đủ điều kiện làm trại bò sữa theo đề án xây dựng trại chăn nuôi bò sữa đã được UBND xã Tự Nhiên và phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Thường Tín đồng ý cho ông Hồng nuôi bò sữa từ năm 2003 đến năm 2033. Như vậy, trong tổng số diện tích hiện trạng ông Hồng đang sử dụng là 16.899 m2 thì có 12.214m² mà UBND xã Tự Nhiên giao thầu và hơn 4000 m2 ông Hồng mua của ba hộ gia đình trên. Trên diện tích đất ông Hồng mua với diện tích ông Hồng thầu, ông Hồng đã làm trang trại bò, nuôi cá nuôi gà, trồng cỏ mô hình VAC và xây các nhà cấp 4 để nuôi các con vật, đào ao, tân đất xây dựng chuồng trại để sử dụng. Trong thời gian ông Hồng sử dụng diện tích đất ông Hồng mua và diện tích đất thầu trên không hề có tranh chấp với bất kỳ ai và hàng năm ông Hồng vẫn đóng thuế đầy đủ cho Nhà nước.

              Đến năm 2007 là hết thời gian thầu, ông Hồng đã lên làm việc với UBND xã Tự Nhiên để xin gia hạn thời gian thầu đối với diện tích mà trước đó UBND xã Tự Nhiên đã giao. Tuy nhiên, UBND xã Tự Nhiên không đồng ý vì với lý do không có chủ trương cho thầu tiếp nhưng tại thời điểm đó tại xã Tự Nhiên có 5 hộ thầu thì có 4 hộ được UBND xã Tự Nhiên giao thầu tiếp, còn ông Hồng làm trại bò sữa thì không được giao. Sau đó, họ dùng sức ép về Đảng đối với ông Hồng, buộc ông Hồng phải bán bò và trao trả đất thầu nhưng xã vẫn không xuống để nhận bàn giao mặt bằng đối với diện tích đã giao thầu cho ông Hồng, việc này đã kéo dài hơn 10 năm.

              Cuối năm 2018 ông Hồng bất ngờ nhận được thông báo của Ủy ban xã Tự Nhiên là đã lập biên bản vi phạm hành chính nhưng không có mặt ông. Họ lập khống biên bản vi phạm hành chính và trong biên bản đó có thể hiện nội dung ông Hồng không ký vào văn bản. Sau đó, ông Hồng có lên UBND xã xin ngay xem biên bản vi phạm hành chính số 01/BB-VPHC (tôi mới biết văn bản này sau khi có Quyết định cưỡng chế) do UBND xã Tự Nhiên xác lập hồi 15 giờ ngày 22/11/2018 là với nội dung gì thì Ủy ban nhân dân xã Tự Nhiên không cung cấp và nói với ông Hồng “Đây là bí mật nội bộ” nên không cung cấp được. 

              Trong thời gian đó ông Hồng được biết Ủy ban nhân dân xã Tự Nhiên gửi tờ trình số 50/TTr-UBND ngày 26/11/2018, tiếp đó tờ trình số 32/TTr-TNMT ngày 15/11/2018 của Phòng Tài nguyên môi trường huyện Thường Tín – TP. Hà Nội gửi lên Chủ tịch UBND huyện Thường Tín đề nghị phá dỡ các công trình của ông Hồng xây dựng từ rất lâu trước đó.

              Sau đó ông Kiều Xuân Huy là Chủ tịch UBND huyện Thường Tín ký Quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả số 4535/QĐ-KPHQ ngày 30/11/2018 và Quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả  số 410/QĐ-CCKPHQ ngày 17/01/2019.

               Ngày 27/11/2019, UBND huyện huy động một lực lượng người đến phá dỡ toàn bộ các công trình của gia đình ông Hồng.

               Trong quá trình xảy ra sự việc ông Hồng đã nhiều lần gửi văn bản đến các cơ quan có thẩm quyền nhưng không được giải quyết thỏa đáng, UBND xã Tự Nhiên và ông Hồng cũng nhiều lần làm việc nhưng hai bên không đi đến được thống nhất để giải quyết vụ việc. Trước thời điểm cưỡng chế thì ông Hồng đã trao đổi với UBND xã và huyện về việc nếu cưỡng chế thì phải bồi thường về tài sản, công sức ông Hồng đã tôn tạo hơn 30 năm mà ông Hồng đã đổ 2 vạn khối cát và đất. Riêng diện tích mà ông Hồng đã mua của 3 hộ gia đình thì ông Hồng có toàn quyền quản lý và sử dụng, nếu không cũng phải quy đổi ra tiền cho ông Hồng vì tất cả đó là mồ hôi, xương máu mà ông Hồng đã gầy dựng để được như ngày hôm nay. Tại thời điểm cưỡng chế do quá căm phấn và bức xúc tuột độ vì toàn bộ tài sản của gia đình không được bồi thường ông Hồng định mấy lần mua bom mìn và xăng dầu và quan tài để tự tử nhưng những người con của ông Hồng đã khuyên can để không xảy ra hậu quả đáng tiếc.

    LUẬT SƯ PHÂN TÍCH VỀ MẶT PHÁP LÝ

     

          Kính thưa các bạn độc giả!

          Tôi là Luật sư Dương Lê Ước An, Đoàn luật sư thành phố Hà Nội. Trên cơ sở nghiên cứu hồ sơ vụ án, tôi xin được trình bày quan điểm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Việt Hồng như sau:

           Trước hết tôi xin khẳng định hai quyết định: Quyết định số 4535/QĐ-KPHQ ngày 30/11/2018 quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả và Quyết định số 410/QĐ-CCKPHQ ngày 17/01/2019 về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả của Chủ tịch UBND huyện Thường Tín là trái quy định pháp luật. Cụ thể:

             Thứ nhất: Về mặt hình thức, trình tự thủ tục ra quyết định Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả và Quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả.

             Trên cơ sở hồ sơ có được và thông qua xét hỏi tại phiên tòa ngày hôm nay, tôi xin khẳng định lại một lần nữa Chủ tịch UBND huyện Thường Tín đã không tuân thủ trình tự thủ tục áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả và cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả. Bởi lẽ các lý do sau:

    1. Về Quyết định Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả.

         Ông chủ tịch UBND huyện Thường tín căn cứ vào biên bản vi phạm hành chính số 01/BB-VPHC do UBND xã Tự Nhiên tổ chức lập hồi 15 giờ 00 phút, ngày 22/11/2018 , để ra quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả đối với ông Nguyễn Việt Hồng là thiếu căn cứ. Bởi lẽ.

           Một là, Biên bản vi phạm hành chính lập không hợp pháp.

           Căn cứ biên bản vi phạm hành chính số 01/BB-VPHC do UBND xã Tự Nhiên lập ngày 22/11/2018. Đối chiếu khoản 2 Điều 58 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định về nội dung biên bản vi phạm hành chính như sau:

          “ 2. Biên bản vi phạm hành chính phải ghi rõ ngày, tháng, năm, địa điểm lập biên bản; họ, tên, chức vụ người lập biên bản; họ, tên, địa chỉ, nghề nghiệp của người vi phạm hoặc tên, địa chỉ của tổ chức vi phạm; giờ, ngày, tháng, năm, địa điểm xảy ra vi phạm; hành vi vi phạm; biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và bảo đảm việc xử lý; tình trạng tang vật, phương tiện bị tạm giữ; lời khai của người vi phạm hoặc đại diện tổ chức vi phạm; nếu có người chứng kiến, người bị thiệt hại hoặc đại diện tổ chức bị thiệt hại thì phải ghi rõ họ, tên, địa chỉ, lời khai của họ; quyền và thời hạn giải trình về vi phạm hành chính của người vi phạm hoặc đại diện của tổ chức vi phạm; cơ quan tiếp nhận giải trình.

           Trường hợp người vi phạm, đại diện tổ chức vi phạm không có mặt tại nơi vi phạm hoặc cố tình trốn tránh hoặc vì lý do khách quan mà không ký vào biên bản thì biên bản phải có chữ ký của đại diện chính quyền cơ sở nơi xảy ra vi phạm hoặc của hai người chứng kiến.”

         Thì, Biên bản vi phạm hành chính số 01/BB-VPHC do UBND xã Tự nhiên lập ngày 22/11/2018 bị thiếu nội dung sau:

    • Biện pháp ngăn chặn và bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính: Không có
    • Tình trạng tang vật: Các tài sản trên đất: không có
    • Biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính: không có;
    • Quyền và thời hạn giải trình về vi phạm hành chính của người vi phạm: Không có.

          Nguyên nhân Biên bản vi phạm hành chính số 01/BB-VPHC do UBND xã Tự Nhiên lập ngày 22/11/2018 thiếu các nội dung nêu trên. Dẫn đến trình tự, thủ tục ban hành quyết định xử lý vi phạm hành chính có sai sót nên các quyết định (Quyết định số 4535/QĐ-KPHQ ngày 30/11/2018 quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả và Quyết định số 410/QĐ-CCKPHQ ngày 17/01/2019 về việc cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả của Chủ tịch UBND huyện Thường Tín là trái quy định pháp luật) là bất hợp pháp, thiếu căn cứ ban hành.

          Mặt khác, không có việc lập Biên bản vi phạm hành chính trên thực tế.

          Biên bản vi phạm hành chính do Uỷ Ban nhân dân xã Tự nhiên lập ngày 22/11/2018 không có sự có mặt của bất kỳ ai trong gia đình Ông Hồng. Lý do không có chữ ký của cá nhân vi phạm – Ông Nguyễn Viết Hồng trong biên bản được đưa ra là do cá nhân vi phạm không ký biên bản.

          Tuy nhiên, Sau khi biết đến sự tồn tại của Biên bản vi phạm hành chính, ông Nguyễn Việt Hồng có lên UBND xã Tự Nhiên xin xem ngay biên bản với nội dung là gì thì Uỷ ban nhân dân xã Tự Nhiên không cung cấp được và trả lời ông Hồng Đây là bí mật nội bộ” nên không cung cấp được. Trong khi đó, Khoản 3 Điều 58 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định rõ: “Biên bản vi phạm hành chính lập xong phải giao cho cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính 01 bản..”

          Vậy giả sử, nếu như có biên bản vi phạm hành chính thì tại sao? UBND không cung cấp cho Ông Hồng mà còn phải chối quanh co “Đây là bí mật nội bộ” . Không những vậy, Tại Biên bản Đối thoại ngày 20/08/2020 chính Ông Nguyễn Xuân Phiến – chủ tịch UBND xã Tự Nhiên cũng không đưa ra được câu trả lời về Qúa trình lập Biên bản vi phạm hành chính, và biên bản vi phạm hành chính này đã được giao cho ông Nguyễn Viết Hồng hay chưa?, Nếu đã giao thì giao vào thời gian nào, bằng hình thức nào?.

              Tất cả đặt ra một dấu hỏi lớn đối với sự xuất hiện của Biên bản vi phạm hành chính, khi không có một văn bản nào đủ sức thuyết phục thể hiện Biên bản này đã có trước khi Chủ tịch UBND huyện Thường Tín ra Quyết định Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo đúng trình tự pháp luật quy định.

            Hai là, Chủ tịch UBND huyện Thường Tín đã không tuân thủ trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật trước khi ra quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả .

            Khoản 5 Điều 1 Quyết định Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả số 4535/QĐ-KPHQ của UBND huyện thường Tín nêu rõ Biện pháp khắc phục hậu quả gồm:

    • Buộc khôi phục lại tình trạng của đất trước khi vi phạm;
    • Buộc trả lại đất đã lấn chiếm.

            Theo quy định tại Điều 66 Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định về trình tự thủ tục, thu hồi đất do vi phạm pháp luật như sau:

            “ 1. Trường hợp vi phạm pháp luật mà phải thu hồi đất, khi hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính thì người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm lập biên bản về vi phạm hành chính để làm căn cứ quyết định thu hồi đất.

              2. Cơ quan tài nguyên và môi trường có trách nhiệm thẩm tra, xác minh thực địa khi cần thiết, trình Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định thu hồi đất.

              3. Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền có trách nhiệm sau:

              a) Thông báo việc thu hồi đất cho người sử dụng đất và đăng trên trang thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện;

              b) Chỉ đạo xử lý phần giá trị còn lại của giá trị đã đầu tư vào đất hoặc tài sản gắn liền với đất (nếu có) theo quy định của pháp luật;

              c) Tổ chức cưỡng chế thực hiện quyết định thu hồi đất theo quy định tại Khoản 3 Điều 65 của Nghị định này;”

           Như vậy, theo quy định trên, trước khi ra quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả thu hồi đất, thì Người có thẩm quyền xử phạt phải có trách nhiệm lập Biên bản về vi phạm hành chính để làm căn cứ thu hồi. Phải Kiểm tra xác minh thực địa, ra thông báo thu hồi đất cho người sử dụng đất, ra quyết định thu hồi. Phải xử lý phần còn lại của giá trị đã đầu tư vào đất hoặc tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật.

          Tuy nhiên, UBND xã Tự Nhiên và UBND Huyện Thường Tín đã không có bất kỳ hành động nào trước khi ra quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả đối với ông Nguyễn Việt Hồng.

            Ngoài ra, tại biên bản làm việc ngày 18/11/2019 bộ phận một cửa UBND xã Tự Nhiên trả lời phiếu đề nghị yêu câu cung cấp thông tin của bà Từ Thị Khiếu (vợ ông Nguyễn Viết Hồng) nêu rõ:

          “ Biên bản kiểm tra hiện trạng sử dụng đất ngày 01/01/2018  UBND xã không tiến hành kiểm tra tại đội 5 do vậy không có biên bản để cung cấp; Đối với biên bản làm việc ngày 01/01/2018 UBND xã cũng không làm việc với ông Hồng lên cũng không có biên bản để cung cấp”.

          Từ những căn cứ trên khẳng định rằng, chủ tịch UBND huyện thường tín đã không có bất kỳ một căn cứ nào để ra quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả đối với ông Nguyễn Viết Hồng, việc ra quyết định  áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả đã vi phạm nghiêm trọng quy định pháp luật.

    1. Về Quyết định Cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả

         Khoản 3 Điều 65 Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định về nguyên tắc cưỡng chế như sau:

         “3. Tổ chức cưỡng chế thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người:

          a) Việc cưỡng chế phải tuân thủ các nguyên tắc thực hiện cưỡng chế quy định tại Khoản 1 Điều 70 của Luật Đất đai;

          b) Sau khi có quyết định thu hồi đất, cơ quan tài nguyên và môi trường có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã vận động, thuyết phục để người có đất thu hồi bàn giao đất;

          c) Sau khi vận động, thuyết phục mà người có đất thu hồi không thực hiện quyết định thu hồi đất thì cơ quan tài nguyên và môi trường trình Ủy ban nhân dân cấp đã ban hành quyết định thu hồi đất ban hành quyết định cưỡng chế thực hiện quyết định thuhồi đất;

          d) Tổ chức được giao thực hiện cưỡng chế có trách nhiệm xây dựng kế hoạch cưỡng chế trình Ủy ban nhân dân cấp đã ban     hành quyết định cưỡng chế phê duyệt;

         đ) Tổ chức được giao thực hiện cưỡng chế có trách nhiệm vận động, thuyết phục người bị cưỡng chế tự nguyện thực hiện việc bàn giao đất;

         e) Ủy ban nhân dân cấp đã ban hành quyết định cưỡng chế có trách nhiệm tổ chức lực lượng thực hiện cưỡng chế thi hành quyết định cưỡng chế đối với trường hợp đã được vận động, thuyết phục theo quy định tại Điểm đ Khoản này mà cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế không chấp nhận thi hành quyết định cưỡng chế.

            Căn cứ theo quy định trên, trước khi ra quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả, cơ quan có thẩm quyền phải ra quyết định thu hồi đất, cơ quan tài nguyên và môi trường có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã vận động, thuyết phục để người có đất thu hồi bàn giao đất; quyết định phê duyệt việc Cưỡng chế.

           Ngoài ra, quy trình bàn giao Quyết định cưỡng chế cho ông Hồng hoàn toàn sai quy trình quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định 166/2013/NĐ-CP quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính:

           “2. Quyết định cưỡng chế được giao trực tiếp hoặc gửi qua bưu điện bằng hình thức bảo đảm và thông báo cho cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế biết.

            Đối với trường hợp quyết định được giao trực tiếp mà cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế cố tình không nhận thì người có thẩm quyền lập biên bản về việc không nhận quyết định có xác nhận của chính quyền địa phương và được coi là quyết định đã được giao.

            Đối với trường hợp gửi qua bưu điện bằng hình thức bảo đảm, nếu sau thời hạn 10 ngày, kể từ ngày quyết định cưỡng chế đã được gửi qua đường bưu điện đến lần thứ ba mà bị trả lại do cá nhân, tổ chức bị cưỡng chế cố tình không nhận; quyết định cưỡng chế đã được niêm yết tại nơi cư trú của cá nhân, trụ sở của tổ chức bị cưỡng chế hoặc có căn cứ cho rằng người bị cưỡng chế trốn tránh     không nhận quyết định cưỡng chế thì được coi là quyết định đã được giao.”

           Tuy nhiên, UBND không hề giao quyết định cưỡng chế cho ông Nguyễn Việt Hồng, Trong biên bản đối thoại ngày 20 tháng 08 năm 2020 Uỷ ban nhân dân huyện Thường tín cũng đã không đưa ra được chứng cứ chứng minh việc UBND đã bàn giao Quyết định cưỡng chế.

           Vậy khi chưa có quyết định thu hồi đất, không có Biên bản vi phạm hành chính, không có quyết định phê duyệt cưỡng chế…Chủ tịch UBND huyện Thường Tín căn cứ vào đâu để ra quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả.  

            Thứ hai, Về mặt nội dung, căn cứ ra quyết định Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả, Quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả.  

            Chủ tịch UBND huyện Thường Tín căn cứ vào khoản 1 Điều 10 Nghị định số 102/2014/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính phủ về Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai “ Điều 10. Lấn, chiếm đất. 1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi lấn, chiếm đất nông nghiệp không phải là đất trồng lúa, đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất.” Để ra quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là không có cơ sở bởi lẽ:

          Một là, không có hành vi lấn đất, chiếm đất.

          Điều 3 Nghị định Số: 102/2014/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai quy định về hành vi lấn đất, chiếm đất như sau:

        “1. Lấn đất là việc người đang sử dụng đất tự chuyển dịch mốc giới hoặc ranh giới thửa đất để mở rộng diện tích đất.

    1. Chiếm đất là việc sử dụng đất mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoặc việc sử dụng đất do được Nhà nước giao, cho thuê nhưng hết thời hạn giao, cho thuê đất không được Nhà nước gia hạn sử dụng mà không trả lại đất hoặc sử dụng đất khi chưa thực hiện thủ tục giao đất, cho thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai.”

          Theo đó, hành vi được coi là lấn đất phải có dấu hiệu dịch chuyển, thay đổi ranh giới, mốc giới của thửa đất trên thực tế so với diện tích ban đầu gia đình được nhận chuyển nhượng, được giao khoán với mục đích để mở rộng diện tích thực tế. Hành vi chiếm đất  là hành vi sử dụng đất mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoặc giao quyền sử dụng.

          Tuy nhiên, đối với toàn bộ diện tích 16.244 m2 tại thửa đất số 123, tờ bản đồ số 11, Đội 5, xã Tự Nhiên bị cưỡng chế thu hồi. trong đó 12.214m đất được UBND xã Tự Nhiên Giao khoán theo hợp đồng giao khoán ngày 19/12/1996.  Số diện tích còn lại hơn 4000 m2 là do ông Nguyễn Việt Hồng Mua lại của các hộ dân khác.

           Cụ thể, đối với diện tích 12.214 m2.

           Năm 1996 để phát triển kinh tế của xã Tự Nhiên, ngày 19/12/1996, lãnh đạo UBND xã đã họp và đưa ra Quy chế về việc đấu thầu khu đất lò gạch để tạo nguồn thu cho địa phương. Sau khi đấu thầu ngày 28/1/1997 ông Nguyễn Việt Hồng được UBND xã Tự Nhiên, đồng ý ký kết hợp đồng giao khoán khu đất lò gạch xã Tự Nhiên. Ủy ban nhân dân xã lập Biên bản bàn giao địa bàn khu lò gạch cuối làng thuộc quỹ đất công vào ngày 01/02/1997, nội dung của biên bản bàn giao ghi rõ: “Tổng diện tích theo bản đồ hiện trạng sử dụng đất là 12.214m2 Các phần tiếp giáp như sau:

    • Phía Bắc khu đấtcó biên giới sát với đất thổ cư của ông Thiện đội 5
    • Phía Đông giáp Sông Hồng
    • Phía Tây là đường Bối chống lụt
    • Phía Nam là mương thoát nước của xã”

          Đối với diện tích hơn 4000 m2.

         Về nguồn gốc hơn 4000 m2 chênh lệch thực tế  thuộc quyền sở hữu hợp pháp của Ông Nguyễn Việt Hồng, và căn cứ theo quy định của pháp luật, số diện tích này đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sử dụng nhà ở.

         + Nguồn gốc 1800m2

         Theo biên nhận của bà Nguyễn Thị Thao cùng chồng là Nguyễn Văn Thiềm, diện tích đất 1800m2 được ông bà sử dụng từ thời kỳ bao cấp trước năm 1985, sử dụng ổn định và không có tranh chấp gì. Mãi đến năm 2003 vợ chồng ông Thiềm nhượng lại cho ông Nguyễn Việt Hồng khoảng 1800m2, sau đó ông Hồng đã mua cát lấp và san bằng. Bởi trước đây tôi mua đất không có hợp đồng mà chỉ nói miệng, vậy nên Biên nhận này là bằng chứng cho việc ông bà Thao, Thiêm đã bán diện tích này cho tôi từ 30 năm trước. (có biên nhận kèm theo)

          + Nguồn gốc 2200m2

          Trong tổng diện tích bàn giao 12.214m2 UBND xã Tự Nhiên bàn giao cho tôi thì trước đó, năm 1989 tôi có mua nhà nằm trên diện tích đất lò gạch của ông Nguyễn Trọng Mạch có sự chứng kiến của Ban quản trị hợp tác xã (Hiện nay dấu móng nhà, móng cổng đang còn) với diện tích khoảng 2000m2 và có mua nhà nằm trên 200m2 của ông Đặng Hữu Long.

           Theo quy định tại điểm b.3 – b – 2.2 mục 2, phần II, Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/08/2004 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình, cụ thể:

          “2.2. Việc giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập từ ngày 01/7/1980 (ngày Chính phủ ban hành Quyết định số 201/CP) đến trước ngày 15/10/1993.

           Pháp luật thời kỳ này nghiêm cấm việc mua, bán phát canh thu tô chuyển nhượng đất đai dưới mọi hình thức; do đó, khi có tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, Toà án giải quyết như sau:

    1. b) Nếu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã được thực hiện thì Toà án công nhận hợp đồng trong các trường hợp sau đây:

         b.3. Bên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã xây nhà ở, công trình kiến trúc, trồng cây lâu năm, đầu tư sản xuất, kinh doanh không vi phạm qui định về quy hoạch và bên chuyển nhượng cũng không phản đối khi bên nhận chuyển quyền sử dụng đất xây nhà ở, công trình kiến trúc, trồng cây lâu năm, đầu tư sản xuất, kinh doanh trên đất đó.”

            Ngoài ra,  Khoản 5 Điều 22 Nghị định 43/2014/NĐ-CP  và Khoản 18 Điều 2 Nghị định 01/2017/NĐ-CP sửa đổi bổ sung Nghị định 43/2014 quy định cho tiến hành chi tiết ban hành luật đất đai 2013 quy định

          Người đang sử dụng đất ổn định trong các trường hợp quy định tại Điểm c Khoản 2 c) Trường hợp lấn, chiếm đất và nay đang sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp hoặc làm nhà ở và không thuộc quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, xây dựng công trình hạ tầng công cộng thì người đang sử dụng đất được xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. mà không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định như sau:

           a) Trường hợp thửa đất có nhà ở thì diện tích đất ở được công nhận theo quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 20 của Nghị định này;

          b) Trường hợp thửa đất có công trình xây dựng không phải là nhà ở thì được công nhận theo quy định tại Điểm b Khoản 1 và Điểm b Khoản 2 Điều 20 của Nghị định này;

          c) Đối với phần diện tích đất đang sử dụng được xác định là đất nông nghiệp thì được công nhận quyền sử dụng đất theo chế độ như quy định đối với trường hợp tại Khoản 5 Điều 20 của Nghị định này;..

           Như vậy, căn cứ theo quy định trên, mặc dù việc chuyển nhượng đất giữa những người trên với ông Nguyễn Việt Hồng không phù hợp với quy định của Luật đất đai do không lập thành văn bản, không công chứng hay chứng thực theo quy định pháp luật. Tuy nhiên ông Hồng đã xây các nhà cấp 4, xây dựng chuồng trại để sử dụng ổn định. Bà Thao và ông Thiềm, ông Mạch, ông Long không phản đối khi ông Hồng thực hiện việc xây nhà, đầu tư sản xuất, kinh doanh. Đồng thời, đã đóng thuế đầy đủ cho nhà nước trong suốt thời gian sử dụng đất và không có tranh chấp gì. Vì vậy, việc chuyển nhượng trên thỏa mãn trường hợp được nhà nước công nhận, đồng nghĩa với việc hơn 4000 m2 đất chênh lệch nêu trên thuộc quyền sử dụng đất hợp pháp của ông Nguyễn Việt Hồng.

           Ngoài ra, trong quá trình sử dụng đất giao khoán, ông Nguyễn Việt Hồng luôn tuân thủ đúng quy định của pháp luật, thực hiện nghĩa vụ nộp thuế sử dụng đất đầy đủ ( thể hiện qua các biên lai thu tiền (cụ thể đã nộp năm 1997 10.000.000 đ; năm 2000 và 2001 mỗi năm nộp 3.000 .000 đ; các năm 2002 đến 2006 mỗi năm nộp 6.000.000 đ). Trong quá trình sử dụng cũng không có tranh chấp với bất kỳ ai.

           Khi hết hạn giao thầu, ông Nguyễn Việt Hồng đã chủ động lên UBND xã Tự Nhiên để gia hạn Tuy nhiên, UBND xã Tự Nhiên không xuống để nhận bàn giao đối với diện tích đất đã giao khoán cũng như không lập biên bản về việc không cho thuê, không có ý kiến về việc thu hồi diện tích đất giao khoán này. Tại biên bản làm việc ngày 9/11/2018 Ông Nguyễn Việt Hồng luôn thiện chí trả lại đất, Tuy nhiên UBND xã đã không thống nhất được phương án.

           Vậy căn cứ vào đâu để UBND huyện Thường Tín cho rằng ông Nguyễn Việt Hồng đã có hành vi lấn chiếm đất.

          Hai là, Khoản 1 Điều 64 Luật đất đai 2013 quy định các trường thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai như sau.

         Điều 64. Thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai

        “ 1. Các trường hợp thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai bao gồm:

          a) Sử dụng đất không đúng mục đích đã được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất và đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng đất không đúng mục đích mà tiếp tục vi phạm;

          b) Người sử dụng đất cố ý hủy hoại đất;

          c) Đất được giao, cho thuê không đúng đối tượng hoặc không đúng thẩm quyền;

          d) Đất không được chuyển nhượng, tặng cho theo quy định của Luật này mà nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho;

          đ) Đất được Nhà nước giao để quản lý mà để bị lấn, chiếm;

          e) Đất không được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này mà người sử dụng đất do thiếu trách nhiệm để bị lấn, chiếm;

         g) Người sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà không chấp hành;

         h) Đất trồng cây hàng năm không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục; đất trồng cây lâu năm không được sử dụng trong thời hạn 18 tháng liên tục; đất trồng rừng không được sử dụng trong thời hạn 24 tháng liên tục;

         i) Đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục hoặc  tiến  độ sử dụng đất chậm 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa phải đưa đất vào sử dụng; trường hợp không đưa đất vào sử dụng thì chủ đầu tư được gia hạn sử dụng 24 tháng và phải nộp cho Nhà nước khoản tiền tương ứng với mức tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với thời gian chậm tiến độ thực hiện dự án trong thời gian này; hết thời hạn được gia hạn mà chủ đầu tư vẫn chưa đưa đất vào sử dụng thì Nhà nước thu hồi đất mà không bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp do bất khả kháng.

           Vậy căn cứ vào điều khoản nào để Ông Chủ Tịch UBND huyện Thường Tín ra quyết định cưỡng chế, thu hồi đất đối với ông Nguyễn Việt Hồng.

           Giả thiết đặt ra nếu như ông Nguyễn Việt Hồng có vi phạm hành chính và bị Nhà Nước Thu hồi đất thì phần diện tích hơn 4000 m2 trên thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Nguyễn Việt Hồng. Nhà nước chỉ thu hồi khi có dự án được chấp thuận, có quyết định thu hồi, phương án hỗ trợ giải phóng mặt bằng….theo đúng trình tự thủ tục pháp Luật đất đai. UBND huyện Thường Tín cưỡng chế phá bỏ toàn bộ hơn 4000m2 trên của Ông Nguyễn Việt Hồng là vi phạm nghiêm trọng quy định của pháp Luật.

           Ba là, Về công sức trông nom, tôn tạo, duy trì bảo vệ đất.

           Năm 2008 khi hết thời hạn giao khoán đất lò gạch, ông Nguyễn Việt Hồng đã lên làm việc với UBND xã Tự Nhiên để xin gia hạn hợp đồng giao khoán năm 1997. Tuy nhiên không được UBND xã Tự Nhiên ký giao khoán tiếp. UBND xã Tự Nhiên không xuống để nhận bàn giao đối với diện tích đất đã giao khoán cũng như không lập biên bản về việc không cho thuê, không có ý kiến về việc thu hồi diện tích đất giao khoán này và gia đình ông Nguyễn Việt Hồng vẫn tiếp tục sử dụng diện tích đất giao khoán mà không có tranh chấp với ai. Cùng thời điểm đó tại xã có 5 hộ thầu khoán thì 04 hộ được UBND xã Tự Nhiên giao thầu tiếp còn hộ gia đình ông Hồng do đang chăn nuôi bò sữa không được giao thầu tiếp.  Vậy lý do gì trong 5 hộ thầu khoán thì 4 hộ được giao thầu tiếp còn một hộ thì không?. và tại sao trong một khoản thời gian dài từ năm 2008 – 2018 UBND xã tự Nhiên không hề có bất kỳ một văn bản nào về việc thu hồi diện tích giao thầu trên.

            Trong hơn 10 năm kể từ khi hết thời hạn giao thầu ông Nguyễn Việt Hồng đã bỏ ra rất nhiều công sức và tiền bạc để quản lý và tôn tạo thửa đất, đổ 02 vạn khối đất và cát để có được Công trình, mặt bằng như ngày hôm nay.

             Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 66 Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định về trình tự thủ tục, thu hồi đất do vi phạm pháp luật

            ” 3. Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền có trách nhiệm sau:

              b) Chỉ đạo xử lý phần giá trị còn lại của giá trị đã đầu tư vào đất hoặc tài sản gắn liền với đất (nếu có) theo quy định của pháp luật;”

               Như vậy, theo quy định trên ông Nguyễn Việt Hồng có quyền đòi bồi thường phần giá trị đã đầu tư và đất và tài sản gắn liền với đất.

               Ngoài ra, khoản 1 Điều 18 a Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ – được bổ sung tại khoản 2 Điều 4 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP quy định về Xử lý tiên sử dụng đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại, tài sản gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất như sau:

            “ 1. Khi Nhà nước thu hồi đất đối với trường hợp quy định tại điểm c và điểm g khoản 1 Điều 64, điểm c khoản 1 Điều 65 của Luật đất đai thì chủ sở hữu tài sản được trả lại giá trị còn lại của tài sản gắn liền với đất đã tạo lập hợp pháp theo quy định của pháp luật mà không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước theo nguyên tắc sau đây

             a) Việc hoàn trả giá trị còn lại của tài sản gắn liền với đất được thực hiện khi Nhà nước giao, cho thuê đất đã thu hồi cho người khác sử dụng;

             b) Người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất có trách nhiệm hoàn trả giá trị còn lại của tài sản gắn liền với đất cho người có đất thu hồi;

             c) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét từng trường hợp cụ thể để quyết định việc trả lại giá trị còn lại của tài sản gắn liền với đất đối với các trường hợp thu hồi đất quy định tại khoản này;

             d) Bộ Tài chính quy định cụ thể khoản này.”

             Và qua bản điều tra Bản thân ông Hồng là một người lính bộ đội cụ hồ đã một thời hi sinh ở chiến trường bom đạn, hi sinh vì tổ quốc, sống một cuộc đời trong sạch, luôn sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật..Là một giáo viên, là một hiệu trưởng 54 tuổi Đảng, cả cuộc đời cống hiến, đem lại nguồn viêc và thu nhập cho những người làm công tại diện tích đất bị cưỡng chế. Thế nhưng, Toàn bộ Công trình, đất đai tại  khu Lò Gạch, đội 5 xã Tự Nhiên là gia sản cả đời, là tâm huyết là mồ hôi nước mắt và máu của cả gia đình ông Nguyễn Việt Hồng bị phá hủy, cưỡng chế một cách trái pháp luật.

             Từ những phân tích trên có thể khẳng định, Chủ tịch UBND huyện Thường Tín không có căn cứ, cơ sở pháp lý để ra quyết định Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả, quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả. Chủ tịch UBND huyện Thường Tín đã không căn cứ vào tình hình thực tế, không xác minh lịch sử sử dụng đất. Đã vội vàng phá dỡ toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp, xâm phạm một cách thô bạo tới quyền và lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Việt Hồng.

              Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 2 Điều 58 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012, khoản 2 Điều 5 Nghị định 166/2013/NĐ-CP, khoản 5 Điều 22 Nghị định 43/2014/NĐ-CP  và khoản 18 Điều 2 Nghị định 01/2017/NĐ-CP sửa đổi bổ sung Nghị định 43/2014, , khoản 1 Điều 18a Nghị định số 47/2014/NĐ-CP  điều 65, Điều 66 Nghị định 43/2014/NĐ-CP, Điều 6, Điều 7, Điều 193 Luật Tố tụng Hành chính 2015:

    • Tuyên hủy quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả số 4535/QĐ-KPHQ ngày 30/11/2018 và quyết định cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả số 410/QĐ-CCKPHQ ngày 17/01/2019 của Chủ tịch UBND huyện thường tín và các văn bản có liên quan.
    • Buộc chủ tịch UBND huyện thường tín bồi thường thiệt hại đối với những tài sản phá dỡ sai quy định pháp luật cho tôi với số tiền là 1000.000.000 đồng (một tỷ đồng).

            Trên đây là phần trình bày quan điểm mang tính cá nhân của tôi về vụ án, rất mong các bạn độc giả xem xét và đưa ra ý kiến của mình để tôi hoàn thiện được phần quan điểm của tôi một cách tốt nhất. Và cũng mong Nhà nước có chính sách đưa pháp luật đi sâu vào đời sống nhân dân hơn. Luật sư Dương Lê Ước An, Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội.

     

     

    Bình luận

    © 2017 AMPLAW - Bản quyền thuộc về Luật An Minh Phát | Nghiêm cấm tái bản khi chưa được sự đồng ý bằng văn bản!